Cộng đồng Vietstock
 
 

Thông báo

Trở lại   Cộng đồng Vietstock
# A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

Articles
Search Articles
Tùy chọn hiển thị
Showing articles 1 to 8 of 11
weslink_love 22-11-2009 10:42 PM
HẢI LÝ
Một cuộc cạnh tranh ngấm ngầm giành giật khách hàng, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn, đã và đang diễn ra giữa một số công ty chứng khoán. Hai biểu hiện rõ nhất của sự cạnh tranh đó là động thái hỗ trợ các nhà đầu tư cá nhân sử dụng đòn bẩy tài chính và cho bán cổ phiếu ngày T+1, T+2, T+3, trong khi qui định của Nhà nước là T+4, tức cổ phiếu phải có trong tài khoản tại thời điểm bán mới được bán. Đòn bẩy tài chính đang bị thu hẹp do các ngân hàng hạn chế tín dụng dành cho chứng khoán, còn Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho biết đang chuẩn bị ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết xung quanh vấn đề bán cổ phiếu ngày T+ cộng.
Trung tâm lưu ký chỉ quản lý tài khoản tổng
Tổng giám đốc một công ty chứng khoán đề nghị giấu tên khẳng định vừa qua hiện tượng cho nhà đầu tư bán cổ phiếu T+1 hoặc T+2 diễn ra tại một số đơn vị. Việc này chỉ áp dụng trong phạm vi khách hàng lớn, chủ yếu các nhà đầu tư lướt sóng. “Một số khách hàng phàn nàn trực tiếp với tôi nếu không cho họ bán ngày T+2, họ sẽ bỏ sang công ty chứng khoán khác” – ông nói – “Quan sát kỹ giao dịch một số mã cổ phiếu, thì thấy khối lượng mua bán tăng giảm bất thường, lên rất nhanh và xuống cũng rất nhanh. Có khi hôm nay giá lên, mai giá xuống, thậm chí lên xuống ngay đầu phiên, cuối phiên. Đấy là những biểu hiện cho thấy hoạt động “lướt sóng”, tạo sóng giả tạo. Điều này thực sự không tốt cho thị trường”.
Nguyên nhân chính của việc bán cổ phiếu ngày T+ cộng sớm hơn qui định là do các nhà đầu tư sử dụng đòn bảy tài chính và mức độ đòn bảy khá cao. Có nhà đầu tư chỉ có 2 triệu đồng trong tài khoản, nhưng được mua số cổ phiếu trị giá tới 10 triệu đồng. Chỉ cần thị trường tăng hoặc giảm hai phiên liền là tài sản của nhà đầu tư đó có thể tăng hoặc giảm 50%. Bán T+1 hay T+2 là đảm bảo cho nhà đầu tư kiểu này có lời hoặc cắt lỗ. Nếu đợi đúng T+4 như qui định, trong trường hợp thị trường xuống mạnh, tài sản của khách hàng có thể “bay hơi” 100%. Đòn bẩy tài chính đã góp phần đẩy giá trị giao dịch của sàn TPHCM tăng vọt trong tháng 10-09, có ngày đạt tới 6.500 tỉ đồng (ngày 23-10-09). Nó cũng là một trong những nhân tố làm thay đổi thị phần môi giới của nhiều công ty chứng khoán, giúp không ít nhân viên môi giới có ăn chia tỷ lệ với công ty chứng khoán nâng thu nhập lên mức 60 - 100 triệu đồng/tháng. Thu nhập cao nhất trong một tháng của một nhân viên môi giới cá biệt đã lên tới 170 triệu đồng.
Vì sao công ty chứng khoán có thể cho khách hàng bán trước khi cổ phiếu về tài khoản? Vì hiện nay Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK) chưa quản lý được đến tận tài khoản của nhà đầu tư. Bà Phương Hoàng Lan Hương, tổng giám đốc TTLKCK nói với TBKTSG: “Hệ thống quản lý của chúng ta hiện nay là hai cấp. TTLKCK chỉ quản lý tài khoản tổng của công ty chứng khoán, có phân biệt thành hai loại: tài khoản của khách hàng và tài khoản tự doanh của công ty đó. Tài khoản của từng khách hàng nằm trong tài khoản tổng của công ty chứng khoán và công ty chứng khoán quản lý tài khoản của từng khách hàng”. Có thể hình dung là TTLKCK nắm cái giỏ tài khoản tổng của công ty chứng khoán, với tổng số tiền, tổng số chứng khoán, tổng số từng mã cổ phiếu, còn tài khoản của nhà đầu tư XYZ có bao nhiêu cổ phiếu, những mã nào, thay đổi ra sao hàng ngày chỉ có công ty chứng khoán mới biết được. Nếu phần mềm quản lý của công ty chứng khoán có chức năng “bộ lọc”, công ty chỉ cần vài thao tác là có thể nắm được, thí dụ bao nhiêu nhà đầu tư của họ đang sở hữu cổ phiếu ABC, tổng cộng cổ phiếu ABC nằm ở công ty họ bao nhiêu, bao nhiêu trong số này đã đủ điều kiện T+4 để bán, bao nhiêu đang ở tình trạng T+3, T+2, T+1. Khả năng công ty chứng khoán thay đổi lượng cổ phiếu đủ điều kiện bán từ tài khoản của nhà đầu tư này sang tài khoản nhà đầu tư khác hoàn toàn có thể xảy ra, vì nhà đầu tư thực sự không thể biết sự thay đổi ấy. Họ đặt lệnh bán, thì lệnh được nhân viên môi giới chuyển thẳng vào Hose hoặc Hnx và chỉ nhân viên môi giới cùng với bộ phận nghiệp vụ mới biết cổ phiếu có trong tài khoản hay không.
Ngoài ra một số công ty chứng khoán cho khách hàng vay cổ phiếu trong danh mục tự doanh để bán ngày T+ cộng. Việc này khá đơn giản nếu mã cổ phiếu trong danh mục tự doanh của công ty trùng với mã cổ phiếu của khách hàng. Vì thế đã có công ty chứng khoán tư vấn cho khách hàng mua những cổ phiếu họ tự doanh, để khi cần có thể bán ngày T+ cộng.
Không sở hữu chứng khoán và sở hữu chứng khoán trong tương lai gần
Ông Vũ Bằng, chủ tịch UBCKNN xác nhận Ủy ban có nghe một số công ty chứng khoán phản ánh hiện tượng bán cổ phiếu ngày T+ cộng sớm hơn qui định. Trước đây, Ủy ban đã có văn bản nhắc nhở các công ty chứng khoán thực hiện đúng qui định và đang chuẩn bị ban hành một hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Ngoài ra Thanh tra của Ủy ban vẫn tiến hành kiểm tra định kỳ các giao dịch T+cộng. “Nếu phát hiện sẽ xử lý đến nơi đến chốn, không nương nhẹ bất kỳ công ty nào” – ông Bằng nhấn mạnh.
Công bằng mà nói, việc xử lý của UNCKNN khi phát hiện vi phạm của công ty chứng khoán cũng không phải không gặp khó khăn. Thông thường, khi xử lý thì cổ phiếu bán T+2, T+3 trước đó đã về đến tài khoản của nhà đầu tư. Còn với việc bán T+1, cách xử lý là sửa lỗi giao dịch T+1, xem ra quá nhẹ. Những công ty cho khách hàng bán T+1, T+2 lập luận họ không làm sai luật, họ chỉ lách luật. Điều 71, khoản 9 Luật Chứng khoán nêu rõ: “Công ty chứng khoán thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo qui định của Bộ Tài chính”. Thực chất qui định trên đề cập đến việc bán khống và qui định của Bộ Tài chính cho đến nay vẫn là cấm bán khống. Song ở đây có khoảng cách giữa việc “không sở hữu chứng khoán” và “sở hữu chứng khoán sau 1-2- 3 ngày nữa, tức sở hữu chứng khoán trong tương lai gần”. Do đó, cốt lõi cần làm rõ chính là một văn bản pháp qui hướng dẫn chi tiết, đầy đủ việc các công ty chứng khoán có thể cho khách hàng bán chứng khoán sở hữu trong tương lai gần không.
Quan trọng nhất của việc qui định bán cổ phiếu T+cộng là việc tạo ra sự công bằng giữa công ty chứng khoán, giữa các nhà đầu tư. Những công ty, nhà đầu tư thực hiện nghiêm túc qui định thì thiệt thòi. Nếu luật pháp cho phép thì tất cả các công ty, nhà đầu tư đều được làm, còn nếu cấm thì ngược lại. Không thể kéo dài tình trạng người làm, người không như hiện nay.
Về phía TTLKCK, bà Phương Hoàng Lan Hương cho biết một cơ chế giám sát thực hiện đúng qui định ngày T+ cộng sẽ được tiến hành vào đầu năm 2010. Hiện tại TTLKCK đang chạy thử nghiệm mô hình quản lý lai căng hai cấp: vừa quản lý tài khoản tổng của công ty chứng khoán đồng thời quản lý đến từng tài khoản của nhà đầu tư (còn gọi là tài khoản phụ). Việc chạy thử nghiệm sẽ kết thúc vào tháng 12-09. Với mô hình mới (mà nhiều nước đã áp dụng), dựa trên việc nhận diện số chứng minh thư, Trung tâm có thể biết chính xác nhà đầu tư có bao nhiêu tài khoản, ở công ty nào, mua bán cổ phiếu gì, số lượng, thời điểm giao dịch….
Có một phương thức khác để xóa bỏ những rắc rối của việc giao dịch cổ phiếu T+ cộng, và giúp hệ thống giám sát của TTLKCK trở nên đơn giản, hiệu quả là cho phép nhà đầu tư mở nhiều tài khoản giao dịch và mua bán cùng một loại cổ phiếu trong ngày. Tuy nhiên, theo lời ông Bằng, Bộ Tài chính vẫn đang cân nhắc nhiều chiều vấn đề này. “Chúng tôi tiếp tục thuyết phục, giải trình Bộ về những cái được và chưa được liên quan đến việc cho phép mua bán cùng một loại cổ phiếu trong ngày. Quan trọng là làm sao để những qui định mới đảm bảo an toàn cho thị trường hoạt động” – ông Bằng nói.
weslink_love 22-11-2009 10:34 PM
HẢI LÝ
“Cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt 1,9 tỉ đô la Mỹ, dự trữ ngoại hối giảm, thị trường ngoại hối có biểu hiện căng thẳng về cung cầu, gây sức ép lên tỷ giá” – đó là những phác họa của Ủy ban Kinh tế Quốc hội về thị trường ngoại hối những tháng vừa qua trong Báo cáo thẩm tra phát triển kinh tế xã hội năm 2009, kế hoạch năm 2010 ngày 16-10-09. Câu hỏi đang được dư luận quan tâm là vì sao dự trữ ngoại hối giảm, mức độ giảm đến đâu, tỷ giá đang chịu những sức ép gì?
Áp lực vàng
Ngày 12-11-09 lần đầu tiên trong năm nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp quota nhập khẩu vàng cho 6-7 doanh nghiệp và ngân hàng với tổng mức nhập khoảng 10 tấn. Ngân hàng ACB được phép nhập 2 tấn; Sacombank 1,5 tấn; PNJ (Công ty vàng bạc đá quí Phú Nhuận), Eximbank, SJC mỗi đơn vị 1 tấn…. Ở phía Bắc đầu mối nhập vàng lớn nhất là ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. Bà Nguyễn Thị Cúc, phó tổng giám đốc PNJ tính toán với giá vàng quốc tế ngày 15-11-09 ở mức 1.118,5 đô la Mỹ/ounce, giá thành nhập vàng CIF TPHCM chừng 36,2 triệu đô la Mỹ/tấn. Các nhà nhập khẩu có hai tuần để nhập và quota hết hạn vào ngày 27-11-09. Các doanh nghiệp cho biết sẽ nhập hết hạn mức. Như thế nhập siêu của tháng 11 sẽ tăng thêm khoảng 360 triệu đô la Mỹ từ nhập khẩu vàng.
“Cho nhập khẩu vàng có thể Nhà nước nghĩ rằng chúng tôi sẽ nhập về dự trữ. Khi cung cầu vàng trong nước mất cân đối, doanh nghiệp sẽ mang ra bán để can thiệp. Thực tế không phải vậy. Doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh doanh trước tiên, đảm bảo đã nhập là có lời và tiêu thụ được. Nếu nhập để dự trữ, sau này giá vàng quốc tế giảm, doanh nghiệp lỗ, Nhà nước có bù cho không?” – bà Cúc nói.
Điều gì sẽ xảy ra sau ngày 27-11 khi quota nhập vàng hết hạn? Nếu nhu cầu trong nước vẫn cao, NHNN có cho nhập tiếp không và nguồn ngoại tệ nào cân đối việc nhập vàng? Đang có những ý kiến nên chăng cơ cấu dự trữ ngoại hối của Việt Nam cần thay đổi, chuyển một phần nhất định từ đô la Mỹ sang vàng như nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ đã làm. Nhà nước sẽ chọn thời điểm thích hợp để thay đổi cơ cấu dự trữ ngoại hối và điều đó không làm giảm bớt dự trữ ngoại hối quốc gia. Với số vàng có trong tay, Nhà nước đủ khả năng can thiệp vào thị trường, dập tắt các tín hiệu đầu cơ là thủ phạm gây nên “cơn sốt” vừa qua.
Nợ nước ngoài tăng, dự trữ ngoại hối giảm
Trong Bản tin nợ nước ngoài số 3 ngày 29-4-09 Bộ Tài chính công bố dư nợ nước ngoài của Chính phủ năm 2008 (bao gồm nợ của Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh) là 21,8 tỉ đô la Mỹ, tăng 2,6 tỉ đô la Mỹ so với mức 19,2 tỉ đô la Mỹ của năm 2007. Năm ngoái, tổng mức trả nợ trong kỳ của Chính phủ là 1,104 tỉ đô la Mỹ, tăng 218 triệu đô la Mỹ so với mức 886 triệu đô la Mỹ của năm liền kề. Năm nay, trong báo cáo Phục hồi & Tăng trưởng tháng 10-09, Dragon Capital trích dẫn số liệu của IMF, IFS và Bộ Tài chính cho biết tổng nợ nước ngoài của Chính phủ ước 23 tỉ đô la Mỹ và tổng mức trả nợ ngắn hạn chưa tới 1,6 tỉ đô la Mỹ. Mức tăng của các con số này tỏ ra hợp lý nếu so sánh với số liệu của giai đoạn 2004 – 2008 (xem bảng).
Tuy nhiên Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế Quốc hội lại đưa ra số liệu khác khi nhận xét: “Nợ Chính phủ tăng cao, năm 2008 ước 36,5% GDP, năm 2009 khoảng 40% GDP và năm 2010 chừng 44% GDP”. Nợ của Chính phủ ở đây, ngoài nợ nước ngoài, gồm cả nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường nội địa. Năm ngoái, lượng trái phiếu phát hành trong nước khá cao, nên nợ Chính phủ tăng. Nhưng năm nay thì khác. Nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu là không nhiều bởi 9 tháng đầu năm Bộ Tài chính chỉ phát hành được 20.870 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ (kể cả phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ) so với chỉ tiêu 126.000 tỉ đồng của cả năm. Như vậy, rất có thể dư nợ nước ngoài thực của Chính phủ năm nay tăng lên cao hơn mức 23 tỉ đô la Mỹ mà một số tổ chức dự báo.
Trong khi nợ nước ngoài tăng, dự trữ ngoại hối của Việt Nam lại giảm. Ngày 19-6-08 Thống đốc NHNN công bố dự trữ ngoại hối đạt 20,7 tỉ đô la Mỹ. Tại hội thảo “Khủng hoảng tài chính và giám sát an toàn vĩ mô” do Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia tổ chức ngày 15-10-09 ở Hà Nội, các diễn giả trích dẫn số liệu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết dự trữ ngoại hối giảm từ 23 tỉ đô la Mỹ vào cuối tháng 11-08 xuống 17,3 tỉ đô la Mỹ vào cuối tháng 6-09 (Nguồn: VietnamNet “Căng thẳng ngoại tệ” ngày 17-10-09). Nếu số liệu của ADB là chính xác, thì trong vòng sáu tháng, dự trữ ngoại hối đã giảm 5,7 tỉ đô la Mỹ – một mức sụt giảm tương đối nhanh.
Vì sao dự trữ ngoại hối giảm?
Luồng ngoại tệ qua kênh đầu tư gián tiếp và trực tiếp năm nay tuy không bằng năm 2007, nhưng so với năm ngoái cũng không thấp hơn nhiều. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI 10 tháng đầu năm đã giải ngân được 8 tỉ đô la Mỹ. Năm ngoái vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rút ra nhiều qua thoái vốn cả cổ phiếu và trái phiếu. Năm nay đầu tư gián tiếp nước ngoài vào cổ phiếu đã dương. Dragon Capital nhận xét lượng tiền có thể rút nhanh ra khỏi Việt Nam qua trái phiếu năm nay chỉ có 3 tỉ đô la Mỹ (so với 8 tỉ đô la Mỹ của đầu năm 2008), nhưng các trái chủ đều nắm giữ và đến giờ hầu như chưa có sự rút nào. Các ngân hàng nước ngoài cho vay ước 8,5 tỉ đô la Mỹ, phần lớn các khoản vay này cho các dự án FDI dài hạn, nên đây không phải là áp lực hay rủi ro tiềm ẩn lên tỷ giá.
Nhìn sang kiều hối, Bộ Tài chính dự báo kiều hối năm 2009 khoảng 6,8 tỉ đô la Mỹ, chỉ thấp hơn 400 triệu đô la Mỹ so với mức 7,2 tỉ đô la Mỹ năm 2008. Song số liệu của phía ngân hàng lại không khả quan đến vậy. Theo chi nhánh NHNN TPHCM, lượng kiều hối chi trả qua các ngân hàng trên địa bàn 10 tháng đầu năm nay chỉ đạt 2,6 tỉ đô la Mỹ, bằng 60% so với cùng kỳ (kiều hối của TPHCM thường chiếm hơn một nửa của cả nước). Các ngân hàng phản ánh kiều hối về ít hơn, nhưng quan trọng là người nhận không bán cho ngân hàng theo tỷ giá niêm yết. Họ nhận bằng ngoại tệ, sau đó gửi tiết kiệm ngoại tệ, hoặc mang ra mua bán trên thị trường tự do. Liệu bao nhiêu phần trăm của con số 2,6 tỉ đô la Mỹ kiều hối nói trên chảy vào ngân hàng?
Nút thắt của sự cân đối luồng ngoại tệ vào và ra chính là nhập siêu. Tổng cục Thống kê ước tính nhập siêu 10 tháng đầu năm 8,78 tỉ đô la Mỹ. Nhập siêu cả năm có thể vượt 10 tỉ đô la Mỹ. Về mặt lý thuyết, việc giải ngân vốn FDI, vay nước ngoài, kiều hối….có thể bù đắp nhập siêu. Song thực tế lại vẽ ra một bức tranh khác: các nhà xuất khẩu và các công ty có nguồn thu ngoại tệ đều găm giữ ngoại tệ trên tài khoản, vốn huy động ngoại tệ từ dân cư tăng mạnh, khiến đô la huy động dư thừa, đô la thương mại thiếu hụt. Đến tháng 10-09 vốn huy động ngoại tệ của ngân hàng Á châu đạt 1 tỉ đô la Mỹ, gấp đôi so với năm 2008, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Giới ngân hàng ước tính hiện lượng ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp và vốn huy động ngoại tệ của tất cả các tổ chức tín dụng khoảng 18-20 tỉ đô la Mỹ. Nhiều ngân hàng phải đem ngoại tệ huy động gửi ở nước ngoài. Cho dù đô la Mỹ đang mất giá so với các ngoại tệ mạnh và đồng nội tệ của hầu hết các nước Đông Nam Á, nó vẫn lên giá so với tiền đồng cả trên phương diện tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày và trên thị trường tự do.
Dự trữ ngoại hối đã giảm tương đối nhanh phải chăng chỉ để bù đắp nhập siêu hay còn để giữ ổn định giá trị của đồng tiền Việt so với đô la Mỹ? Làm sao có thể chuyển đổi sự dư thừa của đô la huy động sang đô la thương mại khi mà khoảng cách giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá thị trường tự do đã vượt quá 500 đồng/đô la Mỹ từ lâu và có lúc sự chênh lệch đã vượt 1.000 đồng/đô la Mỹ. Yếu tố tâm lý đang chi phối việc giữ ngoại tệ của cả người dân và doanh nghiệp. Nguồn căn của yếu tố đó bắt nguồn từ đâu? Từ sự đầu cơ? Từ chính sách điều hành tỷ giá của NHNN?

admin 16-11-2009 12:01 AM
HẢI LÝ - TB Kinh tế SG
Các nhà đầu tư đang sở hữu cổ phiếu Vietcombank có lẽ sẽ không còn hào hứng khi biết rằng Tổng công ty Đầu tư & Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã không từ chối mua cổ phiếu ngân hàng Ngoại thương với tư cách cổ đông nhà nước. Vietcombank đã được phép phát hành thêm 9,28% cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, trong đó có cả cổ đông Nhà nước, dù Nhà nước không niêm yết số cổ phần đang nắm giữ trên sàn TPHCM. Vietcombank chỉ niêm yết số cổ phần đã IPO mà thôi.


Ý tưởng phát hành thêm 9,28% cổ phiếu cho cổ đông bên ngoài không bao gồm Nhà nước được nêu ra trước thềm đại hội cổ đông của Vietcombank đầu năm nay. Bản chất của ý tưởng ấy là giúp cán bộ công nhân viên Vietcombank, những người đã mua cổ phiếu ưu đãi với giá xấp xỉ 62.000 đồng/cổ phiếu trước đó, có điều kiện được mua thêm cổ phiếu bằng mệnh giá để trung hòa giá mua. Với giá giao dịch trên Hose hiện nay (dao động xung quanh 50.000 đồng/cổ phiếu), người lao động ở Vietcombank vẫn chưa thu hồi được tiền mua cổ phiếu, cho dù đã nắm giữ gần hai năm liền.



Ở các công ty cổ phần, việc phát hành cổ phiếu cho người lao động thuộc quyền của đại hội cổ đông. Nhưng với Vietcombank điều đó khó hơn do Nhà nước vẫn nắm giữ hơn 90% cổ phần ngân hàng. Ở đại hội cổ đông Vietcombank, đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước cũng đã đồng ý ủy quyền cho hội đồng quản trị xin các cơ quan chức năng cho phép ngân hàng phát hành thêm 9,28% cổ phiếu cho cổ đông bên ngoài.


Ngày 13-7-09 Vietcombank có văn bản số 1059 gửi các cơ quan quản lý về việc phát hành thêm. Văn bản nói rõ trong trường hợp nếu cổ đông nào không có ý định mua, hội đồng quản trị ngân hàng có quyền phân phối số cổ phần đó cho các cổ đông khác.


Ngày 30-7-09 SCIC có văn bản 1672 trả lời Vietcombank, trong đó nhấn mạnh hai điểm: 1. SCIC thống nhất đồng ý phương án 1.122 tỷ đồng mệnh giá cổ phiếu cho tất cả các cổ đông với giá 10.000 đồng/cổ phiếu trong năm 2009; 2. SCIC đăng ký tham gia mua hết số cổ phiếu được mua với tư cách cổ đông hiện hữu.



Ngày 3-9-09 Bộ Tài chính công bố công văn số 12421 trả lời Vietcombank. Theo đó việc phát hành thêm cổ phiếu phải được đại hội cổ đông thông qua; Vietcombank báo cáo đại diện cơ quan chủ sở hữu phần vốn nhà nước quyết định; toàn bộ các cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách cổ đông tại thời điểm chốt danh sách thực hiện quyền, bao gồm cổ đông nhà nước và các cổ đông khác.



Như vậy, ý tưởng của Vietcombank phát hành thêm cổ phiếu chỉ cho cổ đông bên ngoài đã không thể thực hiện được. Việc phát hành thêm sắp tới cho tất cả các cổ đông đã không giải quyết được vấn đề cổ phiếu “bạc đãi” mà người lao động ở Vietcombank đang gánh chịu.


SCIC đã không từ chối mua cổ phần phát hành thêm của Vietcombank vì việc từ chối có thể gây thiệt hại cho lợi ích của cổ đông nhà nước. Giá như với việc nhận chuyển nhượng 20,4 triệu cổ phiếu tập đoàn Bảo Việt từ Vinashin với giá đầu tư ban đầu 1.467 tỉ đồng, SCIC cũng từ chối như thế! SCIC hoàn toàn có thể mua số cổ phiếu Bảo Việt nói trên ở Hose với giá chỉ bằng một nửa và tiết kiệm cho nhà nước ít nhất 700 tỉ đồng. Vì sao SCIC lại có những động thái ngược chiều trước các đối tượng khác nhau như vậy: một bên là Vinashin, một bên là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, trong đó có người lao động Vietcombank? Phải chăng lợi ích Nhà nước trước mỗi cổ đông thể nhân và pháp nhân là khác nhau? Bây giờ liệu SCIC có thể mua lại số cổ phiếu mà người lao động ở Vietcombank đã mua với giá đầu tư ban đầu không? Cũng là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông Nhà nước ở các công ty cổ phần, cách hành xử của SCIC dường như không thật thông suốt và nhất quán.
admin 16-11-2009 12:00 AM
HẢI LÝ - TB Kinh tế SG

Ảnh hưởng bởi những động thái điều hành mạnh tay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng bắt đầu có dấu hiệu giảm nhiệt. Mối quan tâm của doanh nghiệp hiện nay là nhiệt giảm đến mức nào và điều gì có thể xảy ra với cơ chế lãi suất trong những tháng còn lại của năm.



Động thái mạnh
Như đã thông báo với các ngân hàng trong cuộc họp cuối tháng 10-09 tại TPHCM, tuần trước NHNN có công văn gửi tất cả các tổ chức tín dụng về việc sử dụng vốn vay liên ngân hàng. Theo đó, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng hiện nhỏ hơn vốn vay và nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác. Như vậy một số ngân hàng đã sử dụng vốn vay liên ngân hàng để cho vay lại đối với các tổ chức, cá nhân. Điều này đi ngược lại qui định tại chỉ thị 01 ngày 22-5-09 của Thống đốc NHNN. Để đảm bảo an toàn thanh toán của hệ thống ngân hàng, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện đúng qui định của chỉ thị 01, xây dựng phương án xử lý dứt điểm việc huy động và sử dụng vốn liên ngân hàng trong tháng 11-09. Hàng loạt ngân hàng có tổng vốn huy động nhỏ hơn tổng dư nợ đã phải giải trình với NHNN, kể cả không ít các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.


Theo các ngân hàng phải giải trình, hai biện pháp mà họ áp dụng là tăng cường thu hồi nợ vay đến hạn và phát hành kỳ phiếu, trái phiếu nhằm có thêm nguồn vốn huy động dài hạn. Tuy nhiên, lãi suất của kỳ phiếu, trái phiếu cũng không thể vượt quá mức 10%/năm, không cao hơn lãi suất tiết kiệm, nên khó thu hút người mua. Những ngân hàng thừa vốn, đang cho vay trên thị trường liên ngân hàng, đã rút vốn về đề phòng thanh khoản. Các ngân hàng đang vay thì lo nguồn trả nợ. Cách duy nhất để tăng vốn huy động là tăng tiết kiệm từ dân cư. Ngay lập tức, nhiều ngân hàng tăng lãi suất các kỳ hạn ngắn lên mức tối đa. Lãi suất tiết kiệm của Habubank từ 1 đến 3 tháng đồng loạt là 9,99%/năm. Không loại trừ khả năng trong thời gian tới, khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp mạnh lên, lãi suất huy động tất cả các kỳ hạn của ngân hàng sẽ cùng đứng ở mức 9,999%/năm, kể cả lãi suất không kỳ hạn.



Lệch pha số liệu tăng trưởng tín dụng
Website của NHNN ngày 6-11-09 cho biết trong tháng 10 tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng tăng 1,85% so với tháng 9, tín dụng tăng 2,04%. Tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 10 lên tới 33,29% so với cuối năm 2008. Căn cứ vào số liệu mới này, thì tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm phải trên 31%, chứ không phải chỉ có 28% như NHNN công bố trong cuộc họp tại TPHCM và trên chính website của NHNN trước đó. Chỉ chín tháng, tăng trưởng tín dụng đã vượt chỉ tiêu cả năm (chỉ tiêu này đã được điều chỉnh nhiều lần, từ mức 21%- 22% ban đầu). Còn nếu căn cứ vào mức 28% công bố trước đó, tín dụng tháng 10-09 đã tăng hơn 5%, quả là quá cao. Trong bối cảnh các ngân hàng đang tích cực thu hồi nợ và giải ngân các hợp đồng tín dụng đang giảm xuống, con số tăng trưởng 2,04% của tháng 10 tỏ ra thuyết phục hơn. Nó phù hợp với tình hình tín dụng đang giảm nhiệt. Do đó khoảng cách chênh lệch tăng trưởng tín dụng hơn 3% của chín tháng đầu năm do NHNN công bố đang khiến dư luận băn khoăn về độ chính xác của nó.



Trái phiếu doanh nghiệp sẽ “bùng nổ”?
Một khi tăng trưởng tín dụng đã vượt chỉ tiêu, việc kiềm hãm nó để đưa về mức hợp lý nhằm ngăn chặn khả năng trở lại của lạm phát đòi hỏi phải có những giải pháp chế tài. Song sự chế tài nếu không thấu tình đạt lý, nó vẫn cứ xảy ra.



Ba tháng đầu năm nay tín dụng tăng trưởng ở mức rất thấp. Từ tháng 4 đến tháng 7, tín dụng tăng liên tục với tốc độ cao. Sang tháng 8 đến tháng 10 nó bắt đầu tăng thấp dần. Sự biến động của tăng trưởng tín dụng phụ thuộc hoàn toàn vào việc giải ngân gói kích cầu bù lãi suất. Cho đến nay, số tiền dành cho bù lãi suất vẫn chưa sử dụng hết, mà tín dụng đã vượt chỉ tiêu. Đây chính là góc độ cần phải được nhìn nhận thấu đáo để có một lộ trình thích hợp sử dụng gói kích cầu hai, trong đó có phần vay vốn lưu động ngắn hạn với mức bù lãi suất 2%/năm kéo dài đến 30-3-2010.



Tổng thể, mặt bằng tín dụng sắp tới sẽ như thế nào? Vốn cho kích cầu bù lãi suất 4%/năm vẫn còn, 2%/năm sắp có, nghĩa là tiền đang sẵn. Lãi suất cơ bản không thay đổi và tăng trưởng tín dụng bắt buộc phải kềm chế. Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn và nhu cầu đang tăng. Tiền có – lãi suất hấp dẫn – khách hàng muốn vay – nhưng ngân hàng phải cho vay hạn chế. Sự cộng hưởng của bốn yếu tố này giống như cửa hàng mậu dịch thời bao cấp treo những chiếc áo “hàng mẫu không bán”. Người ta có tiền mua áo, cần áo để mặc, áo giá rẻ nhưng chỉ bán số lượng có hạn. Vậy cơ chế xin – cho có thể xảy ra! Để vay được vốn, anh phải trả giá (lãi suất) cao hơn dưới những hình thức khác nhau.



Ngoài tín dụng, các doanh nghiệp còn kênh nào khác để tiếp cận nguồn vốn? Một trong những phương thức khả thi là phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Ngân hàng sẽ là người bảo lãnh phát hành và người mua. Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp chắc chắn sẽ cao hơn trần lãi suất 10,5%/năm mà tổ chức tín dụng được phép cho vay hiện tại. Vừa qua một số doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu với lãi suất 12%/năm. Trái phiếu doanh nghiệp và lãi suất của nó không thuộc phạm vi điều hành, quản lý của NHNN. Chỉ có điều khi lãi suất trái phiếu doanh nghiệp cao, thì lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ ra sao? Bộ Tài chính làm thế nào phát hành được 56.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ như chỉ tiêu vừa trình Quốc hội xem xét? Những câu hỏi này không phải NHNN là người trả lời!
admin 31-10-2009 09:57 PM
LƯU HẢO - TB Kinh tế SG

Hơn 60% tổng số tiền giải ngân của quỹ đầu tư VF1 là khi VN-Index dưới 500 điểm. Tỷ lệ giải ngân nâng lên 80% khi chỉ số của sàn TPHCM (Hose) ở mức 550 điểm. VF1 và VF4 đã liên tục thoái vốn khi VN-Index bắt đầu vượt mốc 580 điểm. Ngoài VFM, một số tổ chức khác đang đầu tư và đầu cơ không phải chỉ dựa vào thông tin tài chính doanh nghiệp và các chỉ số của kinh tế vĩ mô, mà chủ yếu vào tính thanh khoản của thị trường, vốn đang được cải thiện ở mức cao nhất kể từ khi Hose ra đời.


Thanh khoản tăng gấp 100 lần
Ngày 23-10-09 VN-Index lập kỷ lục mới về khối lượng và giá trị giao dịch với 137 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng, trị giá 6.452 tỉ đồng. Thống kê số liệu của 5 phiên liền kề trước đó cho thấy trong một tuần 514,4 triệu cổ phiếu trị giá 24.608 tỉ đồng đã được trao tay, trung bình 102,8 triệu cổ phiếu và 4.921 tỉ đồng/phiên. Trên sàn Hà Nội, giá trị giao dịch cũng trong tuần đó của Hnx là 228,1 triệu cổ phiếu và 10.350 tỉ đồng. Cộng cả hai sàn, 742 triệu cổ phiếu với giá trị 34.958 tỉ đồng, tương đương 1,95 tỉ đô la Mỹ, được khớp lệnh. Thanh khoản của chứng khoán thực sự đang ở ngưỡng cửa sông đổ ra biển lớn.


Hãy so sánh để có thể hình dung tốc độ gia tăng thanh khoản của chứng khoán. Tháng 6-08 khi VN-Index rớt xuống xung quanh 360 điểm, thanh khoản của Hose chỉ trên dưới 2 triệu cổ phiếu/phiên. Ngày 5-6-08 khối lượng khớp lệnh của Hose chỉ có 1,3 triệu cổ phiếu. So với mức 137 triệu của ngày cuối tuần trước, thanh khoản của Hose tăng hơn 100 lần!!! Tháng 2-09 VN-Index rơi xuống đáy 235 điểm, thanh khoản của sàn TPHCM khoảng dưới 5 triệu cổ phiếu/phiên. Thí dụ khối lượng giao dịch ngày 2-2-09 là 4,7 triệu cổ phiếu, thì thanh khoản hiện tại của thị trường gấp 25 lần. Không ít người đang tự hỏi: tiền đâu “đổ” vào chứng khoán nhiều đến vậy? Chính thanh khoản là yếu tố chủ đạo lý giải cho câu hỏi trên.


Có ý kiến cho rằng một phần tiền từ gói hỗ trợ kích cầu đang “chảy” vào chứng khoán. Có hiện tượng một số doanh nghiệp vay được tiền lãi suất thấp đã tận dụng trả nợ trước hạn và dùng tiền vay để đầu tư nhanh vào cổ phiếu niêm yết. Tuy nhiên, liệu số đơn vị này được bao nhiêu? Các ngân hàng là người chịu trách nhiệm về cho vay và với việc tổng giám đốc tổ chức tín dụng có thể bị truy cứu trách nhiệm nếu hỗ trợ lãi suất không đúng đối tượng, thì cho vay để đầu tư chứng khoán, dù là không cố ý, khó có thể gia tăng mạnh như dòng tiền vào cổ phiếu vừa qua.



Chứng khoán đang là nơi hội tụ của sự ứ đọng nguồn tiền đầu tư bất động sản do chính sách thuế thiếu linh hoạt; là vùng trũng hút vốn từ các tài khoản kinh doanh vàng vì sự biến động quá thất thường và rủi ro của giá vàng quốc tế những tháng gần đây; là nơi hứng tiền gửi tiết kiệm từ ngân hàng chảy sang bởi lãi suất huy động không hấp dẫn.



Mặt trái thanh khoản
Nhưng trên hết, nhờ thanh khoản cao, chứng khoán đang khiến cho dòng tiền đổ vào đây lưu thông nhanh hơn, quay vòng với tốc độ lớn hơn. Nếu trước đây có 10 triệu đồng trong tài khoản, nhà đầu tư chứng khoán quay vòng được 2 lần/tháng do thanh khoản kém thì tổng số tiền anh ta đầu tư (doanh số) chỉ có thể là 20 triệu đồng/tháng. Nay với thanh khoản thị trường đột biến, cũng vẫn 10 triệu đồng đó, anh ta có khả năng quay vòng 10 lần/tháng, thì doanh số đầu tư lên đến 100 triệu đồng/tháng. Qui mô quay vòng của dòng tiền cá nhân đã vậy, của các tổ chức còn khủng khiếp hơn.
Từ tháng 6-09 đến nay, quỹ VF1 lãi hơn 800 tỉ đồng, còn từ đầu năm lãi 1.126 tỉ đồng. Các cổ phiếu niêm yết trong danh mục đầu tư của VF1 và VF4 tăng trưởng gấp 1,5 lần mức tăng trưởng chung của sàn TPHCM, gấp 2 lần mức tăng trưởng chung của sàn Hà Nội. VFM đã mạnh dạn áp dụng mô hình đầu tư Phân tích định lượng (Quantitative model), là sự kết hợp của phân tích cơ bản, kỹ thuật và số liệu thống kê dựa trên các thuật toán tiên tiến. Một mô hình đầu tư như vậy đã không được áp dụng sớm hơn khi thanh khoản của thị trường vô cùng trì trệ. Chỉ khi thị trường có thanh khoản tốt, việc xác định chính xác dấu hiệu mua bán và phân bổ đầu tư hợp lý mới thực sự hiệu quả.



Nhìn ở góc độ vĩ mô, tốc độ phục hồi của chứng khoán đang nhanh hơn tốc độ phục hồi của của mức tăng trưởng GDP. Ở góc độ vi mô, sự gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết không xuất phát hoàn toàn từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính. Lợi nhuận của doanh nghiệp được nâng lên do được hưởng lợi sự biến động của giá nguyên liệu đầu vào, do sự ấm lại ít nhiều của thị trường bất động sản, do hoàn nhập đầu tư tài chính…Nhưng tất cả những sự phân tích cơ bản ấy đã không đủ sức đứng vững trước sự mở rộng thanh khoản của thị trường, của vòng quay đồng vốn. Đó là lý do vì sao nhiều tổ chức đang đầu tư vào thanh khoản của thị trường. Khi độ rộng của dòng sông được mở ra, tôm cá sẽ theo dòng nước lưu thoát nhiều hơn, lưu lượng chảy nhiều hơn, thì những phiên giảm điểm sâu của chứng khoán sẽ ít hơn. Đơn giản là với thanh khoản hiện tại, nhà đầu tư cần mua là mua được, cần bán là bán được. Họ có khả năng thu hồi vốn về hay đưa vốn vào thị trường bất cứ lúc nào. Với niêm tin thanh khoản, sẽ có ít người rút vốn ra khỏi thị trường. Cùng với vòng quay, thanh khoản đẩy “lòng tham” lấn át nỗi “sợ hãi”. Ai cũng có ý nghĩ trong đầu: giả sử thị trường xuống, với thanh khoản này, vẫn rút ra kịp. Cứ thế thanh khoản cuộn lên!



Sự sang trang của thanh khoản là dấu hiệu cho thấy thị trường chứng khoán chuẩn bị chuyển lên giai đoạn phát triển ổn định. Thanh khoản càng cao, sự biến động thất thường của VN-Index sẽ càng giảm.



Tuy nhiên, sự gia tăng quá nhanh của thanh khoản cũng có mặt trái của nó. Vòng quay vốn càng nhanh trong điều kiện thanh khoản gia tăng có thể khiến tốc lực guồng máy chạy quá công suất thiết kế ban đầu và guồng máy có thể vỡ bất cứ lúc nào. Bây giờ không phải là lúc giữ thị trường nữa, mà là thời điểm gia tăng hàng hóa cũng như cho phép ứng dụng các công cụ phái sinh để tăng công suất và tra thêm dầu trơn cho guồng máy, giúp nó hài hòa với thanh khoản thị trường. Cùng với sự phát hành thêm cổ phiếu của các công ty, Nhà nước cần đưa thêm các đại gia lên sàn. Gia tăng không chỉ số lượng hàng, mà cả chất lượng hàng là điều thị trường chứng khoán cần hiện nay!
admin 31-10-2009 09:56 PM
HẢI LÝ - Thời báo Kinh tế SG

Trong số những nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài bỏ tiền vào thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ năm 2000 đến nay, việc đầu tư của Texas Pacific Group (TPG) vào tập đoàn FPT tháng 10-2006 là một trong những “phi vụ” thành công, mang lại lợi nhuận lớn nhất được ghi nhận. Gần 36 tháng sau “cú” kinh doanh ngoạn mục đó, TPG quay trở lại Việt Nam bằng một khoản đầu tư thứ hai có qui mô tương tự, với một tên tuổi mới: tập đoàn Masan (Masan Group).


Tập một: TPG – FPT và khoản lợi nhuận gấp bốn lần vốn đầu tư
Quí 4-2006 thị trường chứng khoán trong thời điểm sôi động. Khi đó các công ty ào ạt nộp hồ sơ niêm yết để lên sàn trước ngày 31-12-2006 nhằm được hưởng ưu đãi thuế. Tập đoàn FPT cũng không nằm ngoài số đó. Chỉ hai tháng trước phiên giao dịch đầu tiên ở sàn TPHCM (Hose), ngày 24-10-2006 FPT ký hợp đồng chính thức bán 10% cổ phần cho TPG thông qua hai đối tác TPG Ventures và Intel Capital với giá 36,5 triệu đô la Mỹ. Lúc bấy giờ vốn điều lệ của FPT là 608 tỉ đồng và 10% là 60,8 tỉ đồng, tính ra TPG đã mua FPT với giá 100.000 đồng/cổ phiếu (trên mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu). Ngoài thị trường OTC, cổ phiếu FPT khi ấy có giá cao gấp 1,5 lần giá mua của TPG, song ở vai trò “cổ đông chiến lược”, việc được mua với giá thấp hơn của TPG cũng là dễ hiểu.



Theo cam kết, TPG phải nắm giữ cổ phiếu FPT ít nhất sáu tháng kể từ khi FPT chào sàn. 180 ngày không phải là thời gian dài và TPG đã nhìn thấy sự thành công của mình ngay ngày đầu tiên khi cổ phiếu FPT được giao dịch với giá 400.000 đồng/cổ phiếu. TPG đã đợi đúng sáu tháng và khi thời hạn kết thúc, họ bắt đầu bán ra cổ phiếu theo phương thức khớp lệnh trên Hose. Thời điểm TPG thoái vốn cũng là lúc cổ phiếu FPT giảm hàng chục phiên liên tục. Các nhà đầu tư mua cổ phiếu FPT ở mức giá cao (đỉnh của cổ phiếu FPT là 665.000 đồng) đã không khỏi ngỡ ngàng vì sự sụt giảm kéo dài và bất ngờ đó. Họ chỉ hiểu ra khi nắm được thông tin TPG đang thoái vốn. Ngày 24-7-2007, đúng chín tháng sau ngày ký hợp đồng bán 10% vốn cho TPG, cổ phiếu FPT rớt xuống 267.000 đồng/cổ phiếu (sau khi thực hiện chia thưởng 50% bằng cổ phiếu), gần ngang giá ngày chào sàn đầu tiên. TPG đã thu được lợi nhuận gấp khoảng bốn lần giá vốn đầu tư vào FPT chỉ trong một thời gian ngắn.



Tập hai: TPG – Masan và lời kết phía trước
Sau FPT và suốt năm 2008, đặc biệt thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng toàn cầu, TPG cũng như các quỹ đầu tư quốc tế khác không ngừng tìm kiếm cơ hội ở Việt Nam. Nhưng mọi tiếp xúc đã không mang lại kết quả cho đến Masan Group.


Không phải ngẫu nhiên TPG chọn Masan Group. Tập đoàn Masan là sự kết hợp của công ty thực phẩm Masan (Masan Food), đang ở vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ nước tương, nước mắm, mì ăn liền, hạt nêm nhãn hiệu Chinsu, Omachi và ngân hàng Techcombank. Masan Group nắm giữ 54,8% vốn của Masan Food và 19,99% vốn của Techcombank, cộng thêm sự hiện diện của hai công ty con là Hoa Phong lan và Hoa Bằng lăng sở hữu tổng cộng 18% cổ phần của Masan Food. Năm ngoái Masan Food đạt 380 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế trên vốn điều lệ 257 tỉ đồng và dự kiến lợi nhuận năm nay khoảng 650 tỉ đồng sau khi mới tăng vốn lên 630 tỉ đồng.



Cũng giống như khi chọn FPT năm 2006, TPG đặt vấn đề đầu tư vào Masan Group bởi tốc độ tăng trưởng nhanh của tập đoàn này. Họ chắc kỳ vọng ở Masan Group về năng lực khởi nghiệp, cũng như chiến lược phát triển kinh doanh đột phá sẽ được lặp lại ở những lĩnh vực kinh doanh mới. Tuy nhiên khi chấp nhận TPG làm cổ đông, Masan Group không phải “tay mơ”. Họ đã nghiên cứu kỹ cuộc “hôn nhân” ngắn ngủi của TPG với FPT. Họ không bán cổ phần trực tiếp cho TPG. Thay vào đó ngày 30-9-2009 Masan Group phát hành ba trái phiếu chuyển đổi, mỗi trái phiếu có giá trị 180 tỉ đồng cho TPG Star Masan, TPG Star Masan II, TPG Star Masan III – các công ty con của TPG Star L.P, một quỹ đầu tư do TPG Growth quản lý. Tiếp đó ngày 8-10-2009 họ phát hành thêm một trái phiếu chuyển đổi trị giá 90 tỉ đồng cho TPG Star Masan. Tổng cộng TPG đã có trong tay 630 tỉ đồng trái phiếu chuyển đổi của Masan Group.


Câu hỏi quan trọng là TPG phải nắm giữ số trái phiếu trên trong bao lâu và tỷ lệ chuyển đổi sẽ như thế nào? Trái phiếu chỉ được chuyển đổi thành cổ phiếu trong khoảng thời gian từ ngày 1-4-2011 đến ngày đáo hạn ba năm sau kể từ khi Masan Group chính thức giao dịch trên Hose. Masan Group vừa được Hose chấp thuận cho niêm yết về mặt nguyên tắc ngày 26-10-09.



Như vậy với Masan Group, TPG sẽ phải nắm giữ trái phiếu ít nhất 18 tháng mới được chuyển thành cổ phiếu, gấp ba lần thời gian nắm giữ cổ phiếu FPT và khi có cổ phiếu rồi, thời điểm nào cổ phiếu đó niêm yết bổ sung và giao dịch thì thời gian sẽ trả lời tiếp. “Hợp đồng hôn nhân” với Masan Group đặt TPG vào vị trí phải “chung thủy” hơn nhiều để thể hiện vai trò đối tác chiến lược, chứ không đơn thuần là đầu tư tài chính.



Vì sao TPG chấp thuận một cuộc “hôn phối” phức tạp và nhiều ràng buộc đến vậy? Vì ngoài cơ hội đầu tư vào Masan Food để có cơ hội tham gia vào sự “bùng nổ” tiêu dùng của Việt Nam trong tương lai (lĩnh vực bán lẻ và phân phối là mảng đang được nước ngoài chú ý), họ đầu tư luôn vào Techcombank, một ngân hàng cổ phần đang lên. Trong vòng một năm rưỡi qua, với sự hỗ trợ của HSBC, cổ đông đang nắm 20% cổ phần, Techcombank đã có những bước tiến tương đối về quản trị rủi ro và tiết giảm chi phí nhờ ứng dụng công nghệ. Ngân hàng này đang cạnh tranh trực tiếp với vị trí thứ nhất và thứ hai của Á châu và Sacombank trong khối tổ chức tín dụng cổ phần.



Sự trở lại của TPG, một tổ chức đầu tư tư nhân quốc tế đang quản lý 42 tỉ đô la Mỹ, cho thấy khả năng tìm kiếm lợi nhuận của nước ngoài ở thị trường đầu tư gián tiếp Việt Nam là khá lớn. Sắp tới, có thể sẽ có những tổ chức, quỹ đầu tư qui mô tầm cỡ khác vào Việt Nam. Sức hút của một thị trường cận biên như Việt Nam vẫn đầy hấp dẫn. Cuối cùng, từ trường hợp của Masan Group, có thể các doanh nghiệp nội địa nay cũng đã có khả năng trực diện ở vị trí bằng vai phải lứa với các nhà đầu tư quốc tế trong các cuộc thương lượng, mua bán nhằm đảm bảo lợi ích công bằng của phía Việt Nam, để tạo nên các cuộc “hôn nhân” môn đăng hộ đối.
admin 31-10-2009 09:50 PM
HẢI LÝ - Thời báo Kinh tế SG

Trong hai cuộc họp với tổng giám đốc các ngân hàng trên địa bàn TPHCM cuối tuần trước và tại Hà Nội đầu tuần này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phát đi thông điệp rõ ràng: mục tiêu ngăn chặn lạm phát quay trở lại được chú ý.


Mất cân đối huy động – cho vay
Theo NHNN tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống chín tháng đầu năm nay so với cuối năm 2008 là 28%. Tuy nhiên, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lại chỉ ra tăng trưởng tín dụng tới 29%. Hạn mức cho tăng trưởng tín dụng ba tháng còn lại của năm 2009 chỉ còn 1% - 2%, tức 0,33% - 0,66%/tháng. Trong cuộc họp ở TPHCM, thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cho biết cụ thể tăng trưởng tín dụng tháng 10-09 sẽ phải ở mức khoảng 1%. Như vậy hạn mức tăng trưởng tín dụng cho hai tháng cuối năm – vốn là thời điểm doanh nghiệp cần vốn cho Tết Âm lịch và Dương lịch - lại càng eo hẹp.



Trong khi đó, đang có sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay. Thống kê của NHNN cho thấy tháng 5-09 tăng trưởng vốn huy động là 4,17%, tăng trưởng cho vay là 4,01%; tháng 6 : 3,58% và 4,4%; tháng 7 : 1,95% và 2,75%; tháng 8 : 0,65% và 2,47%; tháng 9 : 1,84% và 2,2%. Từ tháng 5 đến tháng 8-09 tốc độ tăng trưởng vốn huy động giảm dần, tháng 9-09 có tăng lên, nhưng chủ yếu nhờ tăng huy động bằng ngoại tệ. Còn tăng trưởng tín dụng thì từ tháng 6-09 đến nay lúc nào cũng cao hơn tăng trưởng vốn huy động. Website của NHNN liệt kê trung bình sáu tuần trở lại đây, vốn huy động chỉ tăng 0,27%/tuần. Quí 2-09 vốn huy động còn tăng 10,65%, tín dụng tăng 12,45%. Sang quí 3-09 tốc độ tăng vốn huy động giảm một nửa, chỉ còn 4,45%, trong khi tín dụng vẫn tăng 7,58%.



Việc vốn huy động luôn phải đuổi theo tăng trưởng tín dụng mà không đuổi kịp đã dẫn đến tình trạng nhiều ngân hàng chạy đua nâng lãi suất tiết kiệm hoặc tìm vốn bổ sung trên thị trường liên ngân hàng. Tính đến 12-10-09 có 13 ngân hàng thừa vốn, 23 ngân hàng có biểu hiện thiếu vốn. Trong khối tổ chức tín dụng nước ngoài, bên cạnh 15 ngân hàng thừa vốn, có tới 21 ngân hàng có biểu hiện thiếu vốn. Có tổ chức tín dụng đã vay trên thị trường liên ngân hàng tới 25.000 tỉ đồng. Ngoài sự mất cân đối giữa nguồn vốn đầu vào – đầu ra, không ít ngân hàng mất cân đối cơ cấu kỳ hạn, vốn huy động chủ yếu ngắn hạn, nhưng cho vay trung – dài hạn chiếm tỷ trọng lớn.



NHNN bật đèn vàng
NHNN cho biết từ nay đến hết năm sẽ không điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nhưng cũng sẽ không cung ứng thêm tiền vào lưu thông. Cơ quan quản lý ngành ngân hàng sẽ thanh tra toàn diện những ngân hàng nào có lãi suất tiết kiệm trên 10%/năm, kể cả về mặt nhân sự. Ngay lập tức đầu tuần, những ngân hàng có lãi suất tiền gửi trên 10%/năm đã điều chỉnh về mức cao nhất chỉ còn 9,9%/năm. NHNN tính toán thời điểm giáp Tết, các doanh nghiệp sẽ cần từ 21.000 đến 33.000 tỉ đồng để trả lương, thưởng, dự trữ nguyên vật liệu…Số tiền này các ngân hàng sẽ phải tự lo, NHNN không hỗ trợ. Những ngân hàng nào muốn bán ngoại tệ cho NHNN, phải đăng ký từ tháng 11-09. Bên cạnh đó, trong vòng 15 ngày kể từ cuộc họp ngày 23-10-09 tại TPHCM, các ngân hàng phải xây dựng phương án, kịch bản hoạt động của ngân hàng mình sau khi kết thúc việc hỗ trợ lãi suất 4%/năm và gửi về NHNN.



Một trong những điểm nhấn điều hành của NHNN trước mắt là hoạt động của thị trường liên ngân hàng. Một văn bản hướng dẫn chi tiết và qui định việc sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàng cụ thể vào mục đích gì sẽ được ban hành trong tuần tới. Một quan chức của NHNN nói với TBKTSG thực ra việc qui định sử dụng vốn vay từ thị trường liên ngân hàng đã được nêu rõ trong khoản C, điều 1.2 của Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 22-5-09. Theo đó việc thực hiện giao dịch trên thị trường liên ngân hàng là nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán, không cân đối vốn huy động từ thị trường này để cho vay đối với các tổ chức, cá nhân. Thế nhưng thời gian qua, nhiều ngân hàng đã sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để tăng trưởng tín dụng.


Việc qui định chi tiết hơn mục đích sử dụng vốn vay từ thị trường liên ngân hàng chỉ để bù đắp thiếu hụt tạm thời dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán sẽ đưa tăng trưởng tín dụng ổn định về lâu dài, hạn chế rủi ro và lành mạnh hóa hoạt động cho vay. Tuy nhiên trước mắt nó sẽ khiến một số ngân hàng, đặc biệt những ngân hàng nhỏ chạy theo tăng trưởng tín dụng “nóng”, vay vốn liên ngân hàng để cho vay lại, gặp khó khăn. Việc thực hiện nghiêm chỉnh hơn Chỉ thị 01 và văn bản hướng dẫn mới có khả năng làm doanh số giao dịch của thị trường liên ngân hàng sụt giảm. Theo thông tin hàng tuần của NHNN, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng gần đây luôn ở mức 65.000 – 75.000 tỉ đồng/tuần và 1,2 – 2,2 tỉ đô la Mỹ/tuần. Chẳng hạn trong tuần từ 16 đến 22-10-09, doanh số giao dịch liên ngân hàng đạt 66.428 tỉ đồng và gần 2,2 tỉ đô la Mỹ, bình quân 13.285 tỉ đồng và 438 triệu đô la Mỹ/ngày. Con số giao dịch lớn như thế này, rõ ràng, không phải chỉ để phục vụ việc bù đắp tạm thời dự trữ bắt buộc hoặc khả năng thanh toán. Điều đáng nói là trong giao dịch tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất vay qua đêm đang tăng rất nhanh, từ trung bình 6,49%/năm đầu tháng 10 lên 7,25%/năm tuần trước. Thậm chí hiện tại có ngày lãi suất qua đêm đã “vọt” lên 8%/năm, cao nhất kể từ đầu năm nay. Thiếu vốn là nguyên nhân chính đẩy lãi suất tăng. Một số ngân hàng đã tăng cường mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở. Trong quí 1 và 2-09, NHNN chỉ “bơm” ra qua thị trường mở khoảng 2.000 – 4.000 tỉ đồng/ngày, song gần đây đã phải nâng lên 6.000 – 7.000 tỉ đồng/ngày. Trong cuộc họp ở TPHCM, NHNN nhấn mạnh lượng tiền đưa ra (và hút về) qua thị trường mở đến cuối năm sẽ chỉ dừng ở mức tối đa 7.000 tỉ đồng/ngày.



NHNN đang tỏ ra mềm dẻo và kinh nghiệm hơn trong điều hành tiền tệ. Đèn đỏ trong hoạt động tín dụng đã không bật bất ngờ và đột ngột như tháng 2-08. Thay vào đó, hai cái van, hai giới hạn là lãi suất cơ bản 7% và hạn mức tăng trưởng tín dụng 30% được ấn định không đổi đến cuối năm, đi kèm kiểm soát ngặt nghèo việc thực thi các qui định. Các ngân hàng có thể “vùng vẫy”, nhưng sẽ chỉ trong hai khung đó. Đặt niềm tin vào một sự tăng trưởng lợi nhuận cao của các ngân hàng trong quí 4 này, do đó, sẽ là không thực tế!
admin 22-10-2009 05:00 PM
HẢI LÝ - Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Tháng 6-09 vừa qua hẳn là cột mốc đáng nhớ của hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines (JPA) bởi đây là lần đầu tiên trong lịch sử 17 năm hoạt động, JPA đạt doanh thu 10 triệu đô la Mỹ/tháng, lợi nhuận xấp xỉ 1 triệu đô la Mỹ. Hơn thế nữa, tháng 7-09 JPA nâng doanh thu lên 11,3 triệu đô la Mỹ và lợi nhuận 1,5 triệu đô la Mỹ. Việc JPA bắt đầu kinh doanh có lãi là tín hiệu tích cực, nhưng hãng vẫn cần một thời gian dài để lợi nhuận tích lũy đủ bù đắp những khoản lỗ ảnh hưởng đến vốn trong những năm qua. Người bị chịu thiệt thòi nhiều nhất trong thời gian JPA làm ăn không có lời chính là Nhà nước bởi đến nay Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất của hãng. Đã từ lâu trong giới tài chính có ý kiến đề xuất cổ phần hóa JPA. Bên cạnh việc chọn lựa đối tác chiến lược nước ngoài là tập đoàn Qantas (Úc), mà hiện đang nắm giữ 27% cổ phần của JPA, việc đa dạng hóa cơ cấu cổ đông, cơ cấu vốn của JPA có thể sẽ giúp công ty phục hồi và phát triển nhanh hơn.


Kinh doanh hàng không là một lĩnh vực đã được Nhà nước xác định sẽ đa dạng hóa sở hữu. Năm ngoái, Chính phủ đã có chủ trương cổ phần hóa Vietnam Airlines, nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối. Việc cổ phần hóa những doanh nghiệp tầm cỡ khác của ngành viễn thông như Vinaphone, Mobiphone cũng được đề cập nhiều lần. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, quá trình chuẩn bị phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng cho những doanh nghiệp đó hầu như không tiến triển. Người ta đổ lỗi cho sự tụt dốc của thị trường chứng khoán, cho sự ế ẩm cổ phiếu, cho thời điểm cổ phần hóa chưa thuận lợi. Nhưng bây giờ, khi chứng khoán đã phục hồi, việc cổ phần hóa các công ty lớn dường như vẫn không nhúc nhích.


Thực ra yếu tố cốt lõi quyết định việc cổ phần hóa đi nhanh hay chậm là xác định giá trị doanh nghiệp vẫn chưa được tháo gỡ. Tâm lý e ngại thất thoát tài sản Nhà nước tại các doanh nghiệp lớn nếu việc định giá diễn ra không đúng đang khiến các cơ quan quản lý nhà nước lâm vào tình thế thụ động. Định giá thấp thì Nhà nước thiệt, định giá cao thì ai mua? Bài học từ IPO Bảo Việt, Vietcombank, Sabeco, Habeco vẫn chưa mất đi tính thời sự của nó. Cho dù chỉ số VN-Index đã phục hồi 160% so với đáy, thì giá giao dịch cổ phiếu Bảo Việt, Vietcombank vẫn chưa thể trở về mức giá đấu giá thành công bình quân. Cổ phiếu ưu đãi mà người lao động ở Vietcombank được mua sau hơn một năm nắm giữ vẫn là cổ phiếu “bạc đãi”. Công thức giữ nguyên phần vốn Nhà nước tại những doanh nghiệp đã IPO nói trên, và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn, trong đó phát hành một tỷ lệ nhỏ cổ phiếu ra bên ngoài theo mức giá khởi điểm do Nhà nước ấn định, sẽ khó còn hấp dẫn nhà đầu tư. Cần xác định một công thức IPO hợp lý, mang tính thị trường, nhưng cụ thể công thức đó là gì, thì đến nay các cơ quan quản lý liên quan vẫn đang loay hoay đi tìm lời giải.


Cổ phần hóa càng chậm, Nhà nước mỗi năm phải chi số vốn càng lớn để tiếp tục nuôi doanh nghiệp quốc doanh. Từ năm 1992 đến nay, theo Bộ Tài chính, đã có 3.836 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Xét về số tuyệt đối, số doanh nghiệp quốc doanh đã cổ phần hóa lớn hơn số doanh nghiệp nhà nước còn lại. Song xét về tương quan, các doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều là qui mô nhỏ, vốn thấp, nên tỷ lệ vốn nhà nước được chuyển đổi sở hữu chưa cao. Mới có khoảng 30% vốn nhà nước được cổ phần hóa. Hiện tại, cổ phần hóa mới thực sự “đụng chạm” đến những doanh nghiệp nòng cốt, nơi vốn nhà nước tập trung và cũng là nơi cơ chế quản trị doanh nghiệp cần được đổi mới càng sớm càng tốt.



Ai là người được hưởng lợi nhiều nhất từ cổ phần hóa? Doanh nghiệp, người lao động hay nhà đầu tư? Có một thực tế là sau cổ phần hóa sức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng lên, các công ty cổ phần làm ra lợi nhuận cao hơn, nộp ngân sách nhiều hơn và người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất chính là Nhà nước. Đó là chưa kể sau cổ phần hóa, Nhà nước có điều kiện để đánh giá chính xác số vốn còn lại của mình trong các công ty cổ phần và có thể thoái vốn ở bất cứ công ty nào trong số còn lại đó nếu thấy cần thiết. Nếu không có cổ phần hóa đi trước, làm sao có cơ chế thoái vốn thuận lợi như vậy? Chín tháng đầu năm nay, doanh thu của Tổng công ty Đầu tư & Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) lên tới 1.674 tỉ đồng, trong đó chủ yếu là thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp, thông qua đấu giá hoặc bán trực tiếp qua sàn chứng khoán, lợi nhuận trước thuế 1.415 tỉ đồng. Sẽ rất ít doanh nghiệp qui mô lớn có thể so sánh được với SCIC về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao đến như vậy: 84,5%.



Khởi động lại tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh tầm cỡ và then chốt để nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, xóa bỏ độc quyền ở những lĩnh vực không cần thiết không thể chậm hơn được nữa. Vinaphone và Mobiphone, hai doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị ít nhiều, có thể là sự chọn lựa khởi động lại lần này.
Top Authors

Article Forum v1.9 Copyright by BananaLive

Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 12:15 PM

Sử dụng mã nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.4 © 2000 - 2010 Jelsoft Enterprises Ltd.